Văn hóa - Xã hội
Cập nhật: 8 : 47' : 26'' (GMT+7) - 28 / 7 / 2010
Có một nhà thơ đã viết về những anh hùng liệt sĩ như thế

(Nhân ngày tri ân những anh hùng - liệt sĩ 27-7)

1. Lời mở đầu

Được biết, trong một lần tiếp xúc cử tri ở huyện Mỏ Cày, nhà thơ Hữu Thỉnh - Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam, Đại biểu Quốc hội khoá X, XI (đơn vị Bến Tre), gặp một lão nông đặt tay lên vai nhà thơ, hỏi: “Liệu thơ văn các ông có giúp ích được gì cho bà con nông dân chúng tôi không?”. Hữu Thỉnh tâm sự: “Tôi cứ ngẫm nghĩ mãi ... Phải chăng đó là yêu cầu bức xúc của quần chúng đối với văn học cũng như trách nhiệm của người cầm bút phải đi sâu đi sát, phục vụ đắc lực đời sống” (nguồn: Nguyễn Huy Thông, Cảm nhận văn chương, Nxb Thanh niên, 2010, tr. 136).

Quả thực, nhìn vào sáng tác thơ ca hiện thời, câu hỏi trên không dễ trả lời. Rồi lại phải quay về một thời thơ oanh liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ để dễ khẳng định tính hữu ích của nó đối với sứ mệnh lịch sử, với đời sống cộng đồng và mong mỏi của bà con nông dân vốn chơn chất, bộc trực mà tinh tế, giàu xúc cảm. Gần hơn, ấy là sáng tác của nhà thơ - liệt sĩ Lê Anh Xuân, khi anh viết về những con người yêu nước, xả thân cứu nước ngay chính trên quê hương mình.

2. Nội dung

Những con người xả thân cứu nước ấy, nhìn tổng thể, theo nghĩa rộng đều xứng danh anh hùng, họ bao gồm nhiều thành phần, lứa tuổi, hữu danh và vô danh, điểm tương đồng gặp nhau ở họ là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Viết về họ, Lê Anh Xuân hướng tới cái đẹp, cái cao cả; bên cạnh những tố chất đã trở nên ổn định của người Việt Nam như yêu đời, lạc quan, nhân hậu. Đồng thời cảm hứng về những anh hùng đánh giặc giữ nước, Lê Anh Xuân còn hướng tới bản sắc Nam bộ; ấy là những nét thuộc về tính cách con người sống ở vùng sông nước, thổ ngơi cực Tây Nam Tổ quốc: bộc trực, khoáng đạt, thích thực tiễn hơn lý luận, thích hành động hơn nói năng, sâu tình, nặng nghĩa… Họ đánh giặc từ tầm vông, giáo mác “Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu nón gõ” (Nguyễn Đình Chiểu).

Thực ra, viết về những anh hùng - dũng sĩ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thì không riêng gì Lê Anh Xuân mà đây là mảng đề tài chung đã trở nên phổ biến lúc bấy giờ. Điều muốn nói là ở cách tiếp cận đối tượng để viết và ý thức, trách nhiệm của người viết; vào thời đại ấy, “ra ngõ gặp anh hùng”, nhà thơ ngồi ở đâu mà chẳng viết được! Lê Anh Xuân thì khác, hình như anh không chịu cảm nhận từ xa trong sáng tạo nghệ thuật. Với anh, chỉ đi sâu vào cuộc sống hiện thực, chỉ đến với nơi nóng bỏng nhất, ác liệt nhất của cuộc chiến thì mới tìm được vùng cảm hứng sở trường và mới biến thơ ca thành điệu kèn, tiếng hát, lời cổ vũ quân dân chiến đấu. Vì vậy, khi đã đến chiến trường Nam bộ, anh vẫn không bằng lòng ở tuyến sau mà muốn ra mặt trận, muốn đối diện với quân thù để có những tác phẩm sát với hiện thực hơn, phục vụ được nhiều hơn. Nhà thơ Viễn Phương cho biết: Khoảng đầu tháng 5 năm 1968, Lê Anh Xuân viết thư xin được cùng đoàn quân tiến về Sài Gòn (đợt 2), mặc dù đây là trận đánh ác liệt, cấp trên chưa yêu cầu sự có mặt của nhà thơ. Và kết quả của chuyến đi ấy, bài Dáng đứng Việt Nam - khúc tráng ca của thời đại chống Mỹ ra đời. Có thể nói, Lê Anh Xuân viết khúc tráng ca bất tử ấy bằng tất cả trái tim và máu thịt của mình (hiểu đúng nghĩa của cụm từ này).

Kể từ khi trở về với quê hương chiến đấu, được sống giữa những người anh hùng, xúc cảm trong thơ Lê Anh Xuân lại càng thêm nồng nàn, tươi thắm. Anh dành tâm lực viết về những anh hùng - dũng sĩ, những sự việc cụ thể mà bản thân được tham gia, chứng kiến. Họ chẳng phải ai xa lạ mà toàn là những bà con thân thuộc trên quê hương: “Những anh hùng mặt rất quen/ Bà con ấp dưới, ấp trên cùng làng” (Về Bến Tre).

Đó là những cái tên thực, cuộc đời thực như Nguyễn Văn Tư, Huỳnh Việt Thanh, Út Tiết, Trương Văn Trì, Nguyễn Thị Châu… Hoàn toàn có lý khi người ta nói, thời Việt Nam chống Mỹ là thời “đất chật anh hùng” với thế trận toàn dân đánh giặc, đánh giặc ở mọi lúc, mọi nơi, đủ các loại vũ khí: “Mỗi người là một chiến công/ Mỗi làng là một hầm chông pháo đài” (Về Bến Tre).

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng trở thành một mảng lấp lánh trong thơ Lê Anh Xuân. Tiếng thơ ngợi ca người anh hùng cũng trở nên hết sức tự nhiên, chân thực. Trên quê hương Bến Tre và Nam bộ thành đồng, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ấy, có biết bao con người, cuộc đời để Lê Anh Xuân chiêm ngưỡng, ngợi ca. Một điều may mắn là ngay từ khi mới trở về quê hương, anh được dự Đại hội Anh hùng toàn miền Nam lần thứ nhất. Nhà thơ vui sướng, tự hào khi được “Ngồi giữa bốn bề đỏ rực, giữa những đóa hoa trên ngực anh hùng”, được tiếp xúc những vẻ đẹp cao quý của nhiều con người, đến từ nhiều nơi khác nhau, và “Thấy mặt mình hồng thêm sắc đỏ/ Thấy ngày mai rực rỡ trời hồng” (Gặp những anh hùng).

Kể từ đó, Lê Anh Xuân có khuynh hướng viết về người thực, việc thực. Tất nhiên, để chuyển hóa một nguyên mẫu ngoài đời trở thành hình tượng sinh động, đầy sức ám gợi trong thơ lại không dễ chút nào. Ở đây tài năng của người làm thơ là điều kiện tiên quyết; điều đó lý giải vì sao nhiều người khi đã gắn với hiện thực, gắn với cuộc sống của muôn người mà vẫn chưa hẳn đã có thơ hay. Nhìn đại thể, thơ Lê Anh Xuân tỏ ra có sức sống khá bền vững, một số bài neo đậu trong tâm thức người đọc, được đưa vào giảng dạy trong nhà trường (Nhớ mưa quê hương, Trở về quê nội, Dừa ơi, Dáng đứng Việt Nam).

Viết về người anh hùng đánh giặc, thơ Lê Anh Xuân thể hiện khá đầy đủ về một cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại. Phần lớn người anh hùng trong thơ anh không hoàn toàn hư cấu mà chủ yếu dựa vào nguyên mẫu có thực. Người anh hùng nào cũng bình dị, trữ tình, đơn sơ, mộc mạc. Trên mảnh đất miền Nam này không chỉ người lớn mới đánh giặc mà tuổi thơ cũng góp sức mình vào sự nghiệp giải phóng quê hương. Cùng với bé gái đưa đò che mắt giặc bằng nhiều màu áo khác nhau là em Trì trong bài thơ “Ánh lửa trên sông”. Ngoài đời, họ tên em là Trương Văn Trì, em làm công tác giao liên trên sông Cổ Chiên “Giật mình cá nhảy thơm mùi phù sa”. Những lần đi công tác, em hồn nhiên, tinh nghịch như bạn bè trang lứa, nhưng khi gặp hiểm nguy thì em lại dạn dày, mưu trí: “Qua sông nguy hiểm chẳng sờn / Đạn bom em vượt, sóng cồn em quen”.

Khi bị bao vây, không ngần ngại, em ôm thủ pháo lao vào tàu giặc, cứu nguy cho cán bộ trên thuyền. Từ đó, ánh lửa trên sông Cổ Chiên sáng mãi  bóng em Trì: “Thôi em ở lại Cổ Chiên / Quê hương sóng vỗ ru em bốn mùa”. Hình ảnh em Trì có cái dáng hào hùng của bé Lượm trong thơ Tố Hữu, có cái vui nghịch ngợm của em bé dân công trong thơ Thanh Hải, lại có cái bình tĩnh, can đảm của người giao liên trong bài “Đêm qua làng” của Giang Nam. Nhưng tinh thần xả thân cho cách mạng cùng với mưu trí đánh giặc của em Trì rõ ràng là gắn với cuộc kháng chiến chống Mỹ quyết liệt, với những hình thức đấu tranh đa dạng trên quê hương Bến Tre.

Lê Anh Xuân còn có một bài thơ rất đẹp về “Lão du kích”(tên bài thơ). Có thể nói, đây là bức chân dung đậm nét về tính cách con người Nam bộ. Bằng thể thơ 5 chữ, kết cấu theo lối kể chuyện, Lê Anh Xuân làm sống dậy cuộc đời, thân phận, hành động, tính khí… của một lão nông vùng sông nước, từng trải qua ba thời kỳ lịch sử khác nhau. Lão quắc thước, khỏe mạnh, kiên quyết bám đất bám làng, lão đánh giặc bằng mọi phương tiện, mọi loại vũ khí, kể cả “mẹo vặt” dân gian:

Thấy tôi nhìn ngôi nhà/ Cột kèo trây đất sét/ Lão khoái chí gật gù/ Rồi ôn tồn giải thích/ Mỹ dội bom na-pan/ Lão trị bằng cách ấy …Tư thế của lão oai phong lẫm liệt đúng với tầm vóc sử thi:

Bây giờ lão ngồi đây/ Vót mũi chông bén ngọt... Lưỡi mác loé trời xa/ Râu dài rung  trắng xóa.

Lão du kích trong bài thơ rất gần với chân dung nhân vật Hai bắt rắn, Ba Ngù trong “Đất rừng phương Nam” của Đoàn Giỏi hay nhân vật cụ Mết trong “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành.

Viết về lão du kích, em bé liên lạc, Lê Anh Xuân muốn khẳng định sức sống dẻo dai như rừng tràm, rừng đước, của con người trên dải đất phương Nam, họ nối từ thế hệ trước đến thế hệ sau, kiên quyết bám đất bám làng, một lòng đi theo cách mạng. Thực ra, bổn phận của người già, trẻ em không thuộc về thiên chức đánh giặc, không ai ép họ ra trận, thông điệp toàn cầu cũng nêu lên như thế. Nhưng trong cuộc kháng chiến cứu nước này, với triết lý “nước mất nhà tan”, với chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, họ tự nguyện đánh giặc đến cùng, lập nên chiến công kỳ vĩ, trở thành anh hùng; còn bản chất thì vẫn bình dị như bông lúa, củ khoai. Trở về quê hương chiến đấu, sống hết mình với bà con nông dân trong gian khổ, ác liệt, Lê Anh Xuân có điều kiện hiểu họ hơn ai hết.

Nhưng tập trung cao nhất về người anh hùng đánh giặc vẫn là chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc, tức những người cầm súng trực diện chiến đấu với quân thù. Họ là anh giải phóng quân, là bộ đội địa phương, dân quân du kích, là người chiến sĩ quân báo hoạt động trong lòng địch. Viết về họ, Lê Anh Xuân tiếp cận từ người thật việc thật. Phần lớn trong họ đều có tên, có tuổi và có người từng là đồng hương, đồng bạn với Lê Anh Xuân từ thời niên thiếu. Chẳng hạn, anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Tư, quê ở xã Tân Thành Bình (quê nội nhà thơ), là người đánh giặc bằng ong vò vẽ, trở thành điển hình trong phong trào cách mạng ở Bến Tre. Gương anh hùng này được Lê Anh Xuân thể hiện khá đậm nét trong truyện ngắn “Giữ đất” và sau đó anh viết tiếp bài thơ “Gửi anh Tư”. Bài thơ sâu nặng tình đồng hương, đồng bạn và khẳng định tinh thần bất tử của sự hy sinh:

Hỡi anh hùng cùng chung xứ sở/ Hỡi người bạn của những năm tuổi thơ!...Tôi hiểu vì sao dù anh đã khuất/ Tôi vẫn gặp anh khắp nẻo đường đất nước.

Qua Đồng Tháp, Lê Anh Xuân nghiêng mình trước tấm gương anh hùng như huyền thoại Huỳnh Việt Thanh, người đội trưởng du kích đánh hàng trăm trận, lập được nhiều chiến công, cho đến trận cuối cùng, trong vòng vây siết chặt của quân thù, anh bình tĩnh chống xuồng “lao ra hút địch” để đồng đội rút lui an toàn. Hy sinh rồi, Huỳnh Việt Thanh vẫn đứng giữa Tháp Mười, khắc vào thời gian, vào lịch sử những trang hào hùng lẫm liệt, thơm ngát với bông sen tháng tư, hương tràm tháng bảy. Câu chuyện người anh hùng ấy được Lê Anh Xuân viết trong bài “Anh đứng giữa Tháp Mười”, và người đọc dễ bắt gặp những câu thơ có tầm khái quát khá rõ: “Gió thổi thời gian và biển cỏ xa khơi / Gió thổi tên anh vào lịch sử”.

Hay chuyện người chiến sĩ quân báo Nguyễn Văn Trỗi được tổ chức phân công mưu sát Bộ trưởng quốc phòng Mỹ giữa thành phố Sài Gòn đã gây một tiếng vang lớn trong cả nước và thế giới. Mưu sự không thành nhưng tinh thần bất khuất trước quân thù, lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng, tư thế hy sinh ung dung, bình thản của anh Trỗi đã trở thành cảm hứng sáng tác của nhiều nhà văn, nhà thơ lúc bấy giờ (Tố Hữu, Chế Lan Viên, Trần Đình Vân…). Lê Anh Xuân có ý tưởng viết về anh Trỗi ngay từ khi mới đặt chân trên chiến trường Nam bộ. Theo hồi ký của nhà văn Từ Sơn (Chiến trường sống và viết, Nxb Tác phẩm mới, 1982) thì, ở căn cứ Lãng Bạc (mật danh của Hội Văn nghệ giải phóng miền Nam), Lê Anh Xuân tranh thủ gặp chị Quyên, chị Châu để có thêm tư liệu chân thực, sống động.

Sau cuộc gặp ấy, Lê Anh Xuân bắt tay vào viết Trường ca Nguyễn Văn Trỗi. Hình tượng anh Trỗi trong trường ca chói ngời sắc màu sử thi; không chỉ vậy, Lê Anh Xuân còn dành cho nhân vật anh hùng những dòng thơ thật đẹp, diễn tả mối tình sáng trong, như thách thức với chiến tranh và cái chết: “Tình yêu nơi khám tử hình / Chấn song sắt cũng trổ cành đơm hoa”. Cảm về cách thể hiện tình yêu trong hoàn cảnh nghiệt ngã như thế, có nhà nghiên cứu coi đó là “tình yêu phục sinh”, rất đáng trân trọng.

Nét độc đáo trong thơ Lê Anh Xuân là anh có ý thức và khả năng tạc tượng đài người chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc bằng nghệ thuật ngôn từ (tượng đài phi vật thể). Nhờ vậy, tầm khái quát trong thơ anh càng được nâng lên, chân dung người anh hùng càng trở nên kỳ vĩ, hoành tráng. Để tạc tượng đài người chiến sĩ, Lê Anh Xuân thường sử dụng các mô-típ “dáng đứng” (tư thế) và mô-típ “thế kỷ” (thời gian):

“Anh đứng giữa Tháp Mười/ Giữa biển cỏ mênh mông màu thế kỷ (Anh đứng giữa Tháp Mười)

Hoặc: Như anh đứng đấy trẻ tươi/ Tạc hình thế kỷ muôn đời không tan. (Trường ca Nguyễn Văn Trỗi)

Đặc biệt, đến bài “Dáng đứng Việt Nam”, tượng đài người chiến sĩ vô danh trở thành chân dung của một dân tộc anh hùng:

Ôi anh giải phóng quân!/ Từ dáng đứng của anh giữa đường băng Tân Sơn Nhứt/ Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân. (Dáng đứng Việt Nam)

 Dưới ngòi bút của anh những anh hùng xả thân cứu nước được hiện lên trong tư thế bất khuất, hiên ngang, oai phong, lẫm liệt và đầy bi tráng. Tư thế ấy tồn tại vĩnh hằng với thời gian, lưu danh muôn đời trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.

3 Kết luận 

Chiến tranh đi qua, thơ ca đọng lại. Lê Anh Xuân và thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ đã viết về những anh hùng xả thân vì nước như thế, người đời cần đến thơ như thế: thơ cùng đoàn quân ra trận, thơ cổ vũ tinh thần chiến đấu, thơ diễn tả tâm tư, khát vọng của cả một dân tộc.

Cuộc chiến lùi vào dĩ vãng đã hơn 30 năm, quá khứ máu lửa một thời khép lại, hòa giải - hòa hợp dân tộc, hội nhập khu vực và quốc tế là xu hướng tất yếu; đồng thời cũng không thể lãng quên lịch sử, càng không thể phủ nhận máu xương của vô số người đã ngã xuống để có cuộc sống hôm nay. Đọc thơ Lê Anh Xuân ta lại càng tri ân họ, tự cảm thấy như chưa xứng tầm với họ, còn phải học họ rất nhiều về trách nhiệm với nước, với dân.

Trở lại nỗi phân vân của nhà thơ Hữu Thỉnh trước câu hỏi của một lão nông dân trên đây, tôi nghĩ, chúng ta đã có một thời thơ rất hữu ích, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Công bằng mà nói, thơ thời nay cũng có nhiều bài hữu ích nhưng số lượng vô ích (nếu không muốn nói là độc hại) cũng không ít. Loại thơ “trên trời dưới đất”, luẩn quẩn với ba chuyện linh tinh, nhảm nhí, cũng như loại thơ “tắc tị” đánh đố người đọc, đến nỗi chính người viết cũng không hiểu mình viết cái gì, thì dù nhà thơ có “đi sâu - đi sát” đến đâu cũng không thể có thi phẩm cần thiết như mọi người mong đợi.

Ngẫm lại, chừng nào đông đảo công chúng cần đến thơ, người nông dân tìm thơ để đọc thì khi ấy mới nói đến chuyện thơ “phục vụ đời sống”.

 Tháng 7 năm 2010.

  • Nguyễn Bá Long

  •  
    Lưu để đọc sau

    Bản in

    Phản hồi
     
    CÁC TIN KHÁC:
      Nhiều hoạt động có ý nghĩa dành cho thiếu nhi (7 / 9 / 2010)
      Xã Mỹ Hưng đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (6 / 9 / 2010)
      Tưng bừng ngày khai giảng (6 / 9 / 2010)
      Đêm tôn vinh những người làm nghệ thuật (6 / 9 / 2010)
      Trao học bổng cho học sinh nghèo hiếu học (5 / 9 / 2010)
      Xã Hòa Lộc đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (5 / 9 / 2010)
      Tác động của dư luận xã hội đối với văn hóa giao thông đường bộ (5 / 9 / 2010)
      Giận chồng, cuồng trí giết con (5 / 9 / 2010)
      Một phụ nữ dũng cảm bắt trộm (5 / 9 / 2010)
      Xây dựng địa bàn điểm về quản lý, cảm hóa, giáo dục người vi phạm pháp luật (5 / 9 / 2010)
      Tưng bừng khai giảng năm học mới (5 / 9 / 2010)
      Chuyện về một sinh viên được học bổng du học tại Hoa Kỳ (4 / 9 / 2010)
      Người khách gọi điện thoại lúc giữa trưa (4 / 9 / 2010)
      Thành phố Bến Tre tròn một tuổi (4 / 9 / 2010)
      Tiếp tục đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục (4 / 9 / 2010)
      35 năm sưu tầm ảnh Bác Hồ (3 / 9 / 2010)
      Tình hình hoạt động tôn giáo những tháng đầu năm tương đối ổn định (30 / 8 / 2010)
      Kỷ niệm 65 năm Ngày thành lập ngành Văn hóa - Thông tin (30 / 8 / 2010)
      Bến Tre thực hiện tốt Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm (30 / 8 / 2010)
      Ngày mới trên quê hương An Thạnh (30 / 8 / 2010)

    Trang tiếp

     
    Tìm kiếm

    Bão số 5

    Sự cố sập cầu Cần Thơ

    Việt Nam dự kỳ họp Đại hội đồng LHQ

    Tiêu cực của Ban đề án 112 Chính phủ

    Đồng Khởi online: Có một nhà thơ đã viết về những anh hùng liệt sĩ như thế


    Trang chủ  |  Thông tin tòa soạn  |  Liên hệ  |  Sơ đồ website

    © Báo Đồng Khởi - Giấy phép số: 456/GPBC - Do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 22/10/2007
    Toà soạn: 171 Nguyễn Đình Chiểu, F2, thành phố Bến Tre - Tỉnh Bến Tre
    Điện thoại (+84).75.3822311-(+84).75.3811000-(+84).75.3811650 - Fax : (+84).75.3826658 - email: info@baodongkhoi.com.vn
    Ghi rõ nguồn "Đồng Khởi Điện Tử" khi phát hành lại thông tin từ website này