Kinh tế
Cập nhật: 8 : 28' : 55'' (GMT+7) - 28 / 7 / 2010
Kinh nghiệm hội nhập kinh tế và công nghiệp hóa ở những nước láng giềng
Để tăng trưởng cân đối giữa khu vực công nghiệp và nông nghiệp

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng sắp họp, các cấp bộ Đảng đang sôi nổi bàn luận, đề đạt, quyết nghị nhiều vấn đề quan trọng, có ý nghĩa chiến lược về công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, hẳn sẽ còn có những điều chỉnh, bổ sung, đổi mới thích ứng hơn cho đường lối phát triển kinh tế và hội nhập của đất nước trong một kế hoạch năm năm mới 2010-2015.

Thành công lớn của quá trình công nghiệp hóa ở Nhật Bản và Đài Loan trong vài ba thập niên gần đây là sự gắn kết hợp lý giữa công nghiệp và nông nghiệp. Trong đó, công nghiệp luôn phục vụ nông nghiệp phát triển và ngược lại, nông nghiệp trở thành thị trường lớn để tích lũy cho công nghiệp. Trong thập kỷ 1950, công nghiệp Nhật Bản tập trung phát triển các ngành phục vụ vật tư và máy móc cho nông nghiệp như hóa chất sản xuất phân bón, cơ khí sản xuất máy kéo và máy công cụ. Nhờ đó, nông nghiệp được trang bị đầy đủ máy móc thích hợp với quy mô sản xuất nhỏ, có đủ phân bón để thâm canh.
Đài Loan chủ trương sản xuất vật tư nông nghiệp và phát triển công nghiệp chế biến phục vụ xuất khẩu. Năm 1950, nông nghiệp đóng góp 90% giá trị xuất khẩu, trong đó 70% là nông sản chế biến. Trong suốt 10 năm tiếp sau, nông- lâm sản thô và chế biến vẫn chiếm 70% giá trị xuất khẩu. Công nghiệp chế biến tạo sức cạnh tranh mạnh trên thị trường xuất khẩu và làm tăng giá trị cho nông sản. Năm 1991, công nghiệp chế biến tạo ra giá trị sản lượng 17,5 tỷ USD/năm (thịt: 15%, thức ăn gia súc: 12%, đồ uống: 18%, xay xát gạo: 9%...). Điểm hay nhất là các nhà máy chế biến đều dựa trên quan hệ hợp đồng sản xuất nguyên liệu với nông dân.
Nhờ tạo nhiều việc làm và thu nhập khá cho phần lớn dân số đang sống ở nông thôn, Nhật Bản và Đài Loan đã tạo cho mình một thị trường nội địa đủ lớn cho hàng hóa công nghiệp tích lũy lấy đà chuyển sang xuất khẩu. Trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa, Nhật Bản xuất khẩu thành công chè, lụa và một số nông sản để nhập khẩu máy móc, thiết bị để tích lũy vốn phục vụ công nghiệp hóa. Trong thời kỳ sau đó, cách tích lũy công nghiệp chính của Nhật Bản là bán hàng cho nông thôn. Tại Đài Loan, từ thập kỷ 1950, máy móc thiết bị, vật tư phục vụ nông nghiệp và hàng hóa bán cho nông thôn đem lại tích lũy, tạo đà cho công nghiệp (chênh lệch giá bán phân hóa học đắt, mua lúa rẻ đã tích lũy lượng vốn cho công nghiệp hóa). Giai đoạn 1952- 1963,  Đài Loan đẩy mạnh công nghiệp hóa, mức tích lũy từ nông nghiệp vượt hơn mức thu của toàn bộ thuế của cả nền kinh tế mà thu nhập nông dân vẫn tăng. Trong những năm sau đó, Đài Loan cũng chuyển sang tích lũy phát triển công nghiệp bằng cách bán hàng cho nông thôn.
Thập kỷ 1960- 1970, các ngành công nghiệp chế tạo, công nghiệp nặng (hóa chất, bột giấy, dầu khí, sản phẩm thép…) cũng dần chiếm lĩnh thị trường trong nước trước khi chuyển sang xuất khẩu. Cuối thập kỷ 1970 và đầu thập kỷ 1980, dụng cụ điện tử, điện gia dụng lần lượt chiếm lĩnh thị trường trong nước trước khi chuyển sang xuất khẩu. Từ năm 1956 đến năm 1966, với quy mô dân số chỉ khoảng 10 triệu người nhưng thị trường nội địa đóng góp 60% của công nghiệp chế tạo.
Cả Nhật Bản và Đài Loan đều chủ động đưa công nghiệp lớn từ đô thị về nông thôn để tạo việc làm và thu nhập cho cư dân nông thôn, giảm tải cho thành phố. Đài Loan ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động để tạo việc làm cho nông thôn.
 Trong thời kỳ công nghiệp cất cánh (1956- 1966), ở Đài Loan xuất hiện một hiện tượng khác hẳn các nước công nghiệp đi trước là tỷ lệ lao động công nghiệp ở thành phố giảm từ 43% xuống 37%. Năm 1971, 61% hàng tiêu dùng công nghiệp được sản xuất ở ngoài các thành phố lớn. Ở Nhật Bản, không chỉ các ngành công nghiệp chế biến nông sản mà cả các ngành cơ khí , hóa chất đều được phân tán trên toàn quốc. Từ khi bắt đầu công nghiệp hóa, năm 1953, 80% nhà máy lớn ở Nhật Bản đã được xây dựng ở nông thôn, 30% lao động nông nghiệp tham gia hoạt động phi nông nghiệp, năm 1960 tỷ lệ này tăng lên 66%. Nhờ chủ trương  này mà công nghiệp sử dụng được một nguồn lao động rẻ, dân cư nông thôn có thu nhập cao.
Phương châm “ly nông bất ly hương” được thực hiện thành công với hai nhóm chính sách chính: phát triển doanh nghiệp nông thôn và đưa công nghiệp lớn về nông thôn đã tạo sự gắn bó hài hòa phát triển nông thôn với phát triển công nghiệp, xóa bỏ khoảng cách về mức sống giữa đô thị và nông thôn. Ở Nhật Bản, năm 1950 thu nhập phi nông nghiệp đóng góp gần 30% tổng thu nhập của cư dân nông thôn, năm 1990 tăng lên tới 85%. Ở Đài Loan, 57% nông dân vẫn ở nông thôn đi làm công nhân theo thời vụ, chỉ có khoảng 17% phải rời làng ra thành phố làm công nhân. Nhờ có đủ việc làm nên phân phối thu nhập giữa nông thôn và đô thị Đài Loan rất công bằng. Còn tại Nhật Bản, chính sách giữ giá nông sản cao và biện pháp tạo việc làm trong nông thôn khiến cho thu nhập bình quân hộ nông dân từ năm 1955 đến năm 1965 tương đương thu nhập ở thành phố, đây là giai đoạn lĩnh vực nông nghiệp bắt đầu thu hẹp, tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm dưới 30%, đóng góp GDP dưới 13%. Xóa bỏ khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và đô thị là thành công chưa từng có ở các nước công nghiệp hóa trước đây và vẫn là thách thức lớn cho mọi quốc gia hiện nay.
Trong các nền kinh tế công nghiệp trên thế giới chỉ có Đài Loan duy trì mức tăng dân cư ở các thành phố lớn rất chậm. Trong hơn 20 năm công nghiệp hóa, dân số ở 5 thành phố lớn nhất của Đài Loan chỉ tăng từ 18% lên 27%. Nhờ đó, Đài Loan không phải đối phó với những vấn đề không hay của đô thị hiện đại mà Việt nam đang phải đương đầu.
Để đưa được công nghiệp về nông thôn, hai nhóm chính sách quan trọng đã được cả hai nền kinh tế Nhật Bản và Đài Loan thực hiện là: phát triển kết cấu hạ tầng và phát triển tài nguyên con người. Nhật Bản nổi tiếng với hệ thống giáo dục tiến bộ. Do đó, ngay từ đầu thời kỳ công nghiệp hóa, tỷ lệ dân số biết chữ cao hơn ở châu Âu và hơn cả nhiều nước đang phát triển hiện nay. Giáo dục nông thôn và đào tạo kỹ thuật hướng nghiệp tại Đài Loan có nền tảng tốt từ khi còn là thuộc địa của Nhật Bản, sau này được Nhà nước Nhật Bản tiếp tục ưu tiên phát triển. Năm 1970, tỷ lệ người biết chữ đạt 90%, và hơn 2/3 dân số nông nghiệp Đài Loan có bằng cấp giáo dục chính thức.
Chính kết cấu hạ tầng thuận tiện, dịch vụ điện, nước và thông tin liên lạc thông suốt trong toàn quốc và chất lượng lao động cao đã tạo nên một môi trường đầu tư đặc biệt ở Nhật Bản và Đài Loan, đó là xây dựng nhà máy ở nông thôn rẻ hơn ở đô thị. Đây là điều mà không một quốc gia công nghiệp đi trước nào có được và cũng chưa một nền kinh tế đang phát triển hiện nay đạt được, thậm chí đang là khó khăn lớn nhất của Trung Quốc và Việt Nam.
 Nước ta, từ Đại hội X đã xác định rõ rằng, cho đến nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng. Phải luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao. Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn, chuyển mạnh sang sản xuất các loại sản phẩm có thị trường và hiệu quả kinh tế cao. Xây dựng các vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung gắn với việc chuyển giao công nghệ sản xuất, chế biến và bảo quản. Chú trọng phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, nhất là những ngành, nghề sử dụng nhiều lao động, coi đây là hướng chính để tạo ra nhiều việc làm mới, góp phần tăng nhanh thu nhập cho nông dân (đặc biệt lưu ý: áp dụng công nghệ cao để sản xuất nông sản, thực  phẩm sạch theo tiêu chuẩn quốc tế và xây dựng các khu công nghiệp công nghệ cao). Giảm nhanh tỷ trọng lao động làm nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ; tạo điều kiện cho lao động nông thôn có việc làm cả trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tại chỗ và ngoài nông thôn, kể cả ở nước ngoài.
Song song đó là phát triển nhanh hơn công nghiệp và xây dựng theo hướng nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh và hiện đại hóa bằng cách phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế, đa dạng hóa hình thức sở hữu và quy mô để phát triển công nghiệp và xây dựng với cơ cấu ngành, nghề phù hợp. Phát triển đồng bộ công nghiệp chế biến, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng. Xây dựng và thực hiện tốt chương trình phát triển công nghiệp phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Tăng cường hợp tác liên kết, đưa ngành công nghiệp và xây dựng nước ta hội nhập với các khu vực, trước hết thông qua việc thu hút mạnh đầu tư và công nghệ nguồn của các công ty đa quốc gia tham gia phát triển công nghiệp và xây dựng ở nước ta.

(Bài viết có sự tham khảo tư liệu của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn)


 

  • Huỳnh Văn Thanh

  •  
    Lưu để đọc sau

    Bản in

    Phản hồi
     
    CÁC TIN KHÁC:
      Người Mỏ Cày Bắc trên đất Bình Dương (4 / 9 / 2010)
      Cố gắng nâng cao chất lượng mạng lưới điện nông thôn (4 / 9 / 2010)
      Bảo đảm tiến độ thi công các công trình vốn trái phiếu Chính phủ (4 / 9 / 2010)
      Heo khỏe mạnh vẫn được vận chuyển tiêu thụ (4 / 9 / 2010)
      Các doanh nghiệp góp phần nâng cao vị thế Việt Nam (3 / 9 / 2010)
      Giá lúa, gạo ở đồng bằng sông Cửu Long tăng cao (30 / 8 / 2010)
      Làm giàu nhờ trồng ổi ruột hồng (29 / 8 / 2010)
      Thạnh Phú trúng mùa tôm (29 / 8 / 2010)
      Nhiều năm liền hoàn thành tốt nghĩa vụ thuế (27 / 8 / 2010)
      Tuyên dương 92 tổ chức, cá nhân hoàn thành nghĩa vụ thuế năm 2009 (27 / 8 / 2010)
      Hành trình bưởi da xanh (26 / 8 / 2010)
      Tiếp tục duy trì lãi suất cơ bản ở mức 8%/năm (26 / 8 / 2010)
      Khó khăn thời dịch heo tai xanh (25 / 8 / 2010)
      Ba Tri: Một hộ nuôi thử 12 con hươu (25 / 8 / 2010)
      Hai (24 / 8 / 2010)
      Thuận Điền - vùng đất thuận cho phát triển bưởi da xanh? (23 / 8 / 2010)
      Tiếp chuyện một nhà vườn bảo tồn giống dừa xiêm xanh (23 / 8 / 2010)
      Kiểm tra công tác phòng, chống dịch heo tai xanh (23 / 8 / 2010)
      Bến Tre sẽ là điểm đến hấp dẫn của những nhà đầu tư (23 / 8 / 2010)
      Xây dựng thương hiệu làng nghề chế biến thủy sản Bến Tre (22 / 8 / 2010)

    Trang tiếp

     
    Tìm kiếm

    Bão số 5

    Sự cố sập cầu Cần Thơ

    Việt Nam dự kỳ họp Đại hội đồng LHQ

    Tiêu cực của Ban đề án 112 Chính phủ

    Đồng Khởi online: Để tăng trưởng cân đối giữa khu vực công nghiệp và nông nghiệp


    Trang chủ  |  Thông tin tòa soạn  |  Liên hệ  |  Sơ đồ website

    © Báo Đồng Khởi - Giấy phép số: 456/GPBC - Do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 22/10/2007
    Toà soạn: 171 Nguyễn Đình Chiểu, F2, thành phố Bến Tre - Tỉnh Bến Tre
    Điện thoại (+84).75.3822311-(+84).75.3811000-(+84).75.3811650 - Fax : (+84).75.3826658 - email: info@baodongkhoi.com.vn
    Ghi rõ nguồn "Đồng Khởi Điện Tử" khi phát hành lại thông tin từ website này